Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Kỹ thuật nuôi cá rô đồng

I . Kỹ thuật ương từ bột lên giống:


Diện tích ao ương từ 300-1000 m2, có cống chủ động cấp, thoát nước khi cần. Chiều sâu mực nước trong ao từ 1,2-1,5m, mặt ao thoáng để không ngăn cản ánh sáng mặt trời chiếu vào nước tạo điều kiện cho vi sinh vật trong nước phát triển.

1. Cải tạo ao:

- Bơm cạn nước, bắt hết cá tạp, lấp hang mọi, nạo vét bùn đáy ao nhưng chừa lại lớp bùn dày khoảng 1,5-2 tấc, vệ sinh sạch cây cỏ trên bờ ao, bón vôi từ 10-15kg/100m2, phơi đáy ao.

- Sau khi phơi ao từ 3-5 ngày tiến hành lấy nước vào từ 1,2-1,5m, nước phải lọc qua lớp lưới cước nhằm ngăn không cho cá tạp theo nước vào ao.

- Bón phân gây màu nước:

+ Phân vô cơ: Sau khi lấy nước vào ao đủ yêu cầu, tiến hành bón phân đạm, urê và superphosphate. Tỷ lệ N/P = 2/1, liều lượng 200 gam/m3 nước, hòa nước rải đều khắp ao.

+ Phân hữu cơ: (phân chuồng như phân heo, , gà....): Sau khi ủ cho oai mục thì bón vào ao. Liều lượng từ 25-30kg/100m2 ao. Rải đều ở mặt đáy ao trong lúc phơi ao, bón xong mới lấy nước vào.

Sau khi bón phân 3-5 ngày nước ao có màu xanh đọt chuối non, tiến hành thả cá ương và nâng mực nước lên từ từ.

2. Mật độ thả ương: 1500-2000 con/m2

3. Thức ăn chế biến:

- Từ ngày 1-7 cho cá bột ăn 3 lòng đỏ trứng + 100 gr sửa bột đậu nành cho 10.000 con cá bột/ngày.Lòng đỏ luộc chín nghiền thành bột hòa tan trong nước, đậu nành ngâm trong nước 24 giờ xay nhuyễn thành bột. Khi cho ăn hòa tan thức ăn trong nước và rải đều khắp ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần.

- Ngày thứ 8- thứ 10: cám, tấm 30% + 70% bột cá (hoặc cá tươi). Khẩu phần 300-500 gr/10.000 con cá/ngày. Thức ăn nấu chín, vò viên đặt trong sàn ăn.

- Ngày thứ 30-60: Cám 40% + bột cá 60% (hoặc phế phẩm của nhà máy chế biến thủy sản). Khẩu phần 3-5% trọng lượng đàn cá/ngày. Cho ăn 2-3 lần trong ngày.

Trong thời gian ương nên duy trì màu nước xanh trong ao vì đây là nguồn thức ăn rất tốt cho sự phát triển của cá bột.

4. Chăm sóc:

Định kỳ 10- 15 ngày thay 1/3 lượng nước trong ao. Trên mặt ao thả rau muống, lục bình 1/10 diện tích ao nhằm hấp thu một phần chất dinh dưỡng, tránh ô nhiễm môi trường và hạn chế sự phát triển quá mức của tảo.

II. Nuôi cá thịt:

Diện tích từ 500-1000m2 (1 công đất), có thể nuôi ở diện tích lớn hơn, độ sâu từ 1,2-1,5 m, có cống cấp thoát nước.

1. Cải tạo ao:

Trước khi thả ao nuôi phải được cải tạo bằng các biện pháp giống như phần cải tạo ao ương. Vì nuôi cá thịt nên không cần bón phân gây màu nước.

2. Cá giống:

Cá giống có kích thước từ 3-5 cm ( 3- 5 phân), có trọng lượng trung bình 300-500 con/kg.

- Tiêu chuẩn: Cá mập, khỏe, không xây sát, không dị hình và tương đối đồng cở.

- Cách thả cá nuôi:

+ Thả cá vào ao nuôi lúc sáng sớm hay chiều mát nhằm tránh nhiệt độ cao của môi trường sẽ ảnh hưởng xấu tới cá do cá bị mệt trong quá trình vận chuyển.

+ Cách thả: Trước khi thả cá ra ao, thả bao nilon trên mặt nước từ 10-15 phút để tránh cá bị sốc do chênh lệch nhiệt độ. Khi thả mở miệng bao cho cá ra từ từ.

3. Thức ăn:

Cho cá rô ăn cám tấm (60%) + bột cá (cá tươi hoặc các phế phẩm của nhà máy chế biến thủy sản), xay nhỏ (40%). Khẩu phần từ 5-7% trọng lượng đàn cá/ngày.

4. Cách cho ăn:

Thức ăn được kết dính bằng bột gòn hay nấu chín, vò viên và đặt trong sàn ăn. Sàn ăn được cố định trong ao, nên đặt nhiều sàn ăn tránh sự cạnh tranh làm thức ăn bị rơi rớt do lượng cá tập trung nhiều vào một chỗ. Khoảng cách giữa hai sàn ăn là từ 5-7m. Mỗi ngày cho ăn 2 lần, sáng sớm và chiều tối.

5. Chăm sóc và quản lý:

- Thường xuyên kiểm tra cống, lưới bao quanh bờ ao nếu có hư rách phải vá ngay, đặc biệt chú ý vào giai đoạn mang trứng, cá có thể dùng nắp mang leo lên bờ thoát ra ngoài.

- Trên mặt nước thả 1/10 diện tích rau muống hay bèo lục bình để hấp thu dinh dưỡng dư thừa, hạn chế ô nhiễm môi trường trong nước ao.

- Thường xuyên kiểm tra tình hình thức ăn của cá để điều chỉnh hợp lý.

- Nước trong ao rất dễ nhiễm bẩn do thức ăn tạo nên, do đó tốt nhất nên thay nước hàng ngày theo thủy triều. Nếu ao xa nguồn nước thì định kỳ 10-15 ngày thay phân nửa lượng nước trong ao.

- Hàng ngày kiểm tra tình hình hoạt động của cá để sớm phát hiện nếu cá bệnh.

6. Thu hoạch:

Sau 4-5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 50-100 gr/con. Tiến hành thu hoạch bằng hai cách sau:

a. Cách 1: Thu hết một lần.

Tát cạn ao, bắt hết cá. Ao được cải tạo lại chuẩn bị cho vụ nuôi kế tiếp.

b. Cách 2: Thu tỉa.

Có thể dùng lưới kéo hay tát cạn, bắt những con cá lớn để bán, những con cá còn nhỏ để lại nuôi tiếp. Hình thức này hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn do con giống lớn, thời gian nuôi lần sau ngắn. Nhưng do lượng cá còn lại ít nên chuyển sang nuôi ở 1 ao khác có diện tích nhỏ hơn để tận dụng ao cũ thả nuôi giống mới có số lượng lớn.

Năng suất: Cá nuôi trong ao năng suất có thể đạt từ 2,5-10 tấn/ha/năm.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Những điều cần biết khi nuôi lươn trên bể xi măng, bể bạt

Nuôi lươn trên bể xi măng, bể bạt không đòi hỏi diện tích rộng, tận dụng mảnh vườn có diện tích nhỏ, đầu tư xây dựng cơ bản ít tốn kém. Chủ động theo dõi, quản lý, chăm sóc, điều tiết môi trường, dịch bệnh. Phương pháp nuôi này cho năng suất và sản lượng lớn.


Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Nuôi cá lóc trong ao đất

Nuôi cá lóc rất đa dạng, có thể trong ao, vèo, bể bạc, bể xi măng hay trong mương vườn, ao đất tùy theo điều kiện của người nuôi.

Dưới đây là kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất. Diện tích ao sử dụng nuôi khoảng 100-2.000m2, ao hình chữ nhật để tiện việc chăm sóc quản lý và thu hoạch. Bờ ao phải vững chắc tránh bị sạt lở và không bị ngập nước vào mùa lũ.

Cá giống chọn đều cỡ, không bị dị tật, bóng mượt, không xây xát. Nên thả nuôi với mật độ vừa phải để dễ quản lý, hạn chế dịch bệnh xảy ra. Nếu không gian chật hẹp, cá sẽ chậm lớn và hao đầu con ảnh hưởng đến chi phí nuôi cũng như hệ số tiêu tốn thức ăn sẽ tăng cao. Mật độ thả nuôi từ 30-100 con/m2 (thích hợp 40-60 con/m2). Cá lóc là loài cá dữ và ăn tạp.

Đặc điểm sinh học cá Trê Vàng



Kỹ thuật nuôi cá trê

Các loài cá Trê nói chung đều có tính chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt như: ao tù, mương rãnh, nơi có hàm lượng oxygen thấp vì cơ thể cá Trê có cơ quan hô hấp phụ gọi là "hoa khế" giúp cá hô hấp được nhờ khí trời. Cá Trê có đặc tính ăn tạp, thức ăn chủ yếu là động vật. Trong tự nhiên cá Trê ăn côn trùng, giun ốc, tôm cua, cá... ngoài ra trong điều kiện ao nuôi cá Trê còn có thể ăn các phụ phẫm từ trại chăn nuôi, nhà máy chế biến thủy sản, chất thải từ lò mổ. Mùa vụ sinh sản của cá Trê bắt đầu vào mùa mưa từ tháng 4 - 9 tập trung chủ yếu vào tháng 5 - 7. Trong điều kiện nuôi cá có thể sinh sản nhiều lần trong năm (4 - 6 lần). Nhiệt độ đãm bảo để cá sinh sản từ 25 - 32 0C. Sau khi cá sinh sản xong ta có thể nuôi vỗ tái phát dục khoảng 30 ngày thì cá có thể tham gia sinh sản trở lại.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Kỹ thuật nuôi Lươn thịt

Lươn là loài cá sống chui rúc ở dưới bùn. Tùy điều kiện: địa hình, cách quản lý chăm sóc, chọn giống, thức ăn, phòng trị bệnh tật... mà có các hình thức nuôi khác nhau.

1. Bể nuôi lươn
Bể nuôi lươn phải phù hợp với điều kiện sống tự nhiên của lươn, đảm bảo độ cao để lươn không vượt qua được, không nên xây bể quá rộng. Chiều dài của mỗi bể nuôi có thể từ 2 - 5 m. Chọn nơi dễ lấy nước vào và thoát nước ra.
Bể được xây chìm dưới mặt đất từ 20 - 40 cm, đáy đổ lớp bùn nhuyễn, khoảng 20 - 40 cm, lớp nước 10 - 20 cm.. Trong bể , bố trí một nơi cố định làm chỗ cho lươn ăn, để tiện việc vệ sinh. Bể nuôi lươn có thể làm mái che thoáng, hoặc giàn cây leo phía trên, hoặc thả bèo tây chiếm 1/2 diện tích mặt nước.
Đáy ao bằng đất sét trộn với cát vôi. Cách đáy ao khoảng 40 cm có lỗ cống thoát nước hình tròn, miệng cống có thiết bị chắn cho lươn không trốn đi. Bể xây cao 1 - 1,5 m. Đáy cho một lớp đất giàu mùn, dày 20 - 30 cm, thả thêm rong làm tổ cho lươn.
Thành bể cao hơn mặt nước 30 cm. Mép tường trên có gờ để chống lươn tuồn ra ngoài.

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Kỹ thuật cho lươn sinh sản


Trước đây, nguồn lươn giống phục vụ cho nhu cầu nuôi chủ yếu dựa vào tự nhiên bằng nhiều hình thức khai thác khác nhau như: xúc mô, đặt dớn và kể cả sử dụng mồi thuốc, xuyệt điện… nên nguồn lươn giống không đáp ứng về mặt số lượng cũng như chất lượng. Do đó, muốn có đủ lươn giống đáp ứng cho nhu cầu nuôi, đặc biệt là nuôi với quy mô thâm canh thì cần phải chủ động sản xuất con giống nhân tạo. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có thể tiến hành sinh sản nhân tạo lươn đồng theo quy trình kỹ thuật như sau: